Community Marketing B2B Là Gì?
Tóm tắt: Community marketing B2B là việc xây dựng và nuôi dưỡng một cộng đồng nơi các thành viên kết nối với nhau quanh một mối quan tâm chung, không chỉ kết nối với thương hiệu. Khác biệt cốt lõi nằm ở một câu: khán giả lắng nghe bạn, cộng đồng nói chuyện với nhau. Sức mạnh của cộng đồng đến từ vốn xã hội mà nó tạo ra, từ nhu cầu thuộc về rất sâu của con người, và từ hiệu ứng mạng làm giá trị nhân lên theo từng thành viên. Trong mô hình 7B, cộng đồng không phải một bánh răng riêng biệt. Nó là căn phòng nơi chính các thành viên tự quay các bánh răng cho bạn.
Phần lớn doanh nghiệp B2B nói rằng họ muốn xây cộng đồng, nhưng thứ họ xây thực ra chỉ là vài khán giả được đặt vào trong một group nhỏ. Họ lập một group Facebook, một nhóm LinkedIn, một cộng đồng trên Slack, Discord, Zalo, hoặc một nền tảng riêng. Sau đó họ mời người tham gia, đăng nội dung, chia sẻ thông báo, tổ chức vài buổi livestream, rồi chờ mọi người tương tác. Nhìn bên ngoài, nó có vẻ giống cộng đồng. Có thành viên, có bài đăng, có bình luận, có một nơi để mọi người tụ tập. Nhưng nếu nhìn kỹ vào dòng chảy giá trị bên trong, ta sẽ thấy phần lớn những nhóm đó vẫn chỉ vận hành như một kênh truyền thông một chiều.
Thương hiệu nói, thành viên nghe. Thương hiệu đăng, thành viên xem. Thương hiệu hỏi, thành viên trả lời vài câu cho có. Mọi năng lượng vẫn đi từ thương hiệu ra ngoài, còn người tham gia vẫn ở trạng thái thụ động như trên mọi kênh khác. Đó không phải cộng đồng. Đó là một khán giả ngồi trong một căn phòng có tên là cộng đồng.
Khác biệt giữa khán giả và cộng đồng không phải là một chi tiết nhỏ về cách gọi. Nó là khác biệt về bản chất, và nó quyết định mọi thứ phía sau: cách xây, cách đo, cách nuôi dưỡng, cách thương mại hóa, và cả cách cộng đồng tạo ra lợi thế cạnh tranh. Trong một khán giả, dòng giá trị chảy một chiều: từ thương hiệu tới người theo dõi. Bạn nói, họ nghe. Bạn xuất bản, họ tiêu thụ. Bạn giữ vai trò trung tâm, còn người theo dõi đứng xung quanh trung tâm đó. Trong một cộng đồng thật, dòng giá trị chảy đa chiều. Thành viên nói chuyện với nhau, giúp nhau, học từ nhau, giới thiệu nhau, xác nhận nhau, và đôi khi tạo ra giá trị cho nhau mà thương hiệu không hề trực tiếp tham gia. Lúc đó, thương hiệu không còn là cái loa duy nhất trong phòng. Thương hiệu trở thành người tạo ra và giữ gìn căn phòng để các kết nối đó diễn ra.
Đây là câu phân biệt ngắn nhất: khán giả lắng nghe bạn, cộng đồng nói chuyện với nhau.

Community marketing B2B là gì?
Community marketing B2B là chiến lược xây dựng và nuôi dưỡng một cộng đồng những người kết nối quanh một mối quan tâm, một nghề, một vai trò, một vấn đề, hoặc một mục tiêu chung, nơi giá trị không chỉ đến từ thương hiệu tới thành viên, mà còn đến từ sự tương tác giữa các thành viên với nhau. Khác với việc xây khán giả, vốn chủ yếu là quan hệ một chiều giữa thương hiệu và người theo dõi, cộng đồng tạo ra một mạng lưới quan hệ nhiều chiều. Trong mạng lưới đó, mỗi thành viên mới không chỉ là một người nhận thông tin, mà còn có thể trở thành một nguồn kinh nghiệm, một mối quan hệ, một người giới thiệu, một người xác nhận, hoặc một mắt xích giúp cộng đồng có giá trị hơn.
Đây là điểm khiến cộng đồng khác hẳn các kênh truyền thông thông thường. Một bài viết hay có thể tạo niềm tin. Một newsletter tốt có thể giữ sự chú ý. Một kênh LinkedIn mạnh có thể tạo quen thuộc. Nhưng cộng đồng tạo ra thứ sâu hơn: một môi trường nơi thành viên không chỉ tiếp xúc với thương hiệu, mà còn tiếp xúc với nhau. Khi thành viên bắt đầu cảm thấy rằng họ nhận được giá trị từ những người khác trong cộng đồng, không chỉ từ người điều hành, cộng đồng mới thật sự hình thành.
Nói cách khác, cộng đồng không bắt đầu khi bạn tạo nhóm. Cộng đồng bắt đầu khi thành viên có lý do để quay lại vì nhau.
Một nhóm có thể có mười nghìn thành viên nhưng vẫn chưa phải cộng đồng nếu tất cả chỉ vào xem bài của admin. Ngược lại, một nhóm chỉ có vài trăm người vẫn có thể là cộng đồng rất mạnh nếu thành viên biết nhau, tin nhau, hỏi nhau, giúp nhau, chia sẻ vấn đề thật và tạo ra những cuộc trò chuyện có giá trị mà thương hiệu không cần phải kéo từng chút một. Quy mô quan trọng, nhưng quy mô không phải bằng chứng duy nhất. Bằng chứng thật nằm ở việc giá trị có chảy giữa các thành viên hay không.
Trong B2B, điều này càng quan trọng vì quyết định mua hàng thường không chỉ dựa trên thông tin. Người mua cần sự tin cậy, sự xác nhận, lời khuyên từ người cùng vai trò, kinh nghiệm từ người đã từng triển khai, và cảm giác rằng lựa chọn của mình không cô độc. Cộng đồng tạo ra bối cảnh cho những điều đó xảy ra một cách tự nhiên hơn nhiều so với quảng cáo hay nội dung một chiều.
Vì sao cộng đồng tạo ra vốn xã hội?
Để hiểu cộng đồng tạo ra giá trị gì, ta cần bắt đầu từ một khái niệm quan trọng: vốn xã hội.

Năm 2000, nhà khoa học chính trị Robert Putnam xuất bản công trình lớn Bowling Alone, trong đó ông nói nhiều về sự suy giảm của đời sống cộng đồng tại Mỹ và vai trò của vốn xã hội. Ý tưởng cốt lõi rất rõ: các mạng lưới quan hệ giữa con người có giá trị thật. Chúng không vô hình theo nghĩa vô nghĩa. Chúng là một loại vốn, giống như vốn tài chính hay vốn vật chất, vì chúng giúp con người phối hợp, tin tưởng, chia sẻ thông tin và hỗ trợ nhau hiệu quả hơn.
Khi con người kết nối với nhau trong một mạng lưới có sự tin tưởng và có đi có lại, mạng lưới đó tạo ra giá trị. Người ta giúp nhau nhanh hơn. Người ta giới thiệu nhau dễ hơn. Người ta tin một lời khuyên hơn vì lời khuyên đến từ người ngang hàng, không phải từ người đang cố bán hàng. Người ta chia sẻ những kinh nghiệm mà họ không muốn đăng công khai. Cả nhóm trở nên mạnh hơn tổng các cá nhân rời rạc. Đó là vốn xã hội, và đây chính là thứ một cộng đồng tạo ra mà một khán giả không thể tạo được.
Putnam phân biệt hai loại vốn xã hội, và cả hai đều rất có ý nghĩa trong B2B. Loại thứ nhất là vốn gắn kết, tức các mối quan hệ chặt bên trong một nhóm những người có điểm chung mạnh: cùng nghề, cùng vai trò, cùng vấn đề, cùng hoàn cảnh, cùng kiểu áp lực trong công việc. Loại thứ hai là vốn bắc cầu, tức các mối quan hệ nối giữa các nhóm khác nhau, giúp con người tiếp cận thông tin, cơ hội và góc nhìn mới. Một cộng đồng B2B mạnh thường tạo ra cả hai. Nó gắn kết những người cùng vai trò lại với nhau, đồng thời bắc cầu họ tới những người, ý tưởng, nhà cung cấp, đối tác và cơ hội mà họ khó tự tiếp cận nếu đứng một mình.
Đây là chỗ giá trị của cộng đồng vượt xa giá trị của nội dung hay khán giả. Một bài viết cho bạn thông tin. Một khán giả cho bạn sự chú ý. Nhưng một cộng đồng cho bạn vốn xã hội, tức một mạng lưới quan hệ có niềm tin, có lịch sử tương tác và có khả năng tạo ra giá trị lặp lại theo thời gian. Từ mạng lưới đó có thể chảy ra rất nhiều thứ: lời giới thiệu, sự xác nhận lẫn nhau, kinh nghiệm triển khai, cơ hội hợp tác, sự bảo vệ danh tiếng, và cả một mức độ gắn bó sâu hơn nhiều so với việc chỉ theo dõi một thương hiệu.
Với doanh nghiệp, vốn xã hội này có thể chuyển hóa thành những kết quả rất cụ thể. Trong một cộng đồng có vốn xã hội cao, thành viên có xu hướng giới thiệu người khác tới cộng đồng, rồi gián tiếp giới thiệu họ tới doanh nghiệp. Họ xác nhận giá trị của doanh nghiệp qua các câu chuyện thật, chứ không phải qua lời quảng cáo. Họ giúp người mới hiểu sản phẩm, hiểu ngành, hiểu vấn đề, và đôi khi còn giảm tải cho đội ngũ bán hàng hoặc chăm sóc khách hàng. Quan trọng hơn, họ ở lại lâu hơn vì thứ giữ họ không chỉ là sản phẩm, mà là mạng lưới quan hệ xung quanh sản phẩm, nghề nghiệp hoặc bản sắc chung đó.
Đây là lý do cộng đồng thật là một tài sản kép. Nó vừa tạo giá trị cho thành viên, vừa tạo giá trị cho doanh nghiệp. Và càng tích lũy lâu, giá trị đó càng khó mua bằng tiền trong ngắn hạn.
Vì sao con người cần thuộc về, không chỉ cần thông tin?
Vốn xã hội giải thích cộng đồng tạo ra tài sản gì. Nhưng để hiểu vì sao con người tham gia cộng đồng và ở lại trong cộng đồng, ta cần nhìn vào một nguyên lý tâm lý sâu hơn: nhu cầu thuộc về.
Năm 2000, Edward Deci và Richard Ryan công bố một bài tổng quan kinh điển về lý thuyết tự quyết, trong đó họ xác định ba nhu cầu tâm lý cơ bản của con người: quyền tự chủ, năng lực và sự kết nối. Sự kết nối, hay cảm giác thuộc về, là nhu cầu được gắn bó với người khác, được công nhận trong một nhóm, và có những quan hệ có ý nghĩa. Đây không phải một mong muốn bên lề. Nó là một nhu cầu tâm lý nền tảng, mạnh và bền hơn rất nhiều so với nhu cầu nhận thêm vài mẩu thông tin rời rạc.
Áp vào cộng đồng, nguyên lý này giải thích một điều rất quan trọng: người ta không tham gia cộng đồng chỉ để lấy thông tin. Nếu chỉ cần thông tin, họ có thể tìm trên Google, hỏi ChatGPT, đọc báo cáo ngành, xem webinar, nghe podcast hoặc theo dõi vài chuyên gia trên LinkedIn. Thông tin ngày càng rẻ, ngày càng nhiều, và ngày càng dễ tìm. Nhưng cảm giác thuộc về một nhóm những người giống mình, hiểu vấn đề của mình, nói cùng ngôn ngữ nghề nghiệp với mình, thì không thể được thay thế bằng một bài viết hay một báo cáo.
Một người phụ trách một mảng hẹp trong doanh nghiệp có thể rất cô đơn về mặt chuyên môn. Họ có chức danh, có trách nhiệm, có KPI, có áp lực, nhưng trong chính tổ chức của họ lại không có nhiều người thật sự hiểu những vấn đề họ đang đối mặt. Một CMO B2B trong một công ty kỹ thuật, một giám đốc nhà máy, một trưởng phòng mua hàng, một người phụ trách chuyển đổi số, một kỹ sư chuyên một lĩnh vực rất hẹp, tất cả đều có thể rơi vào trạng thái này. Họ cần thông tin, nhưng họ cũng cần một nơi mà khi nói ra vấn đề, người khác hiểu ngay mà không cần giải thích từ đầu.
Cộng đồng giải quyết khoảng trống đó. Nó cho con người một nơi để thấy rằng mình không đơn độc. Nó tạo cảm giác: có những người khác cũng đang đối mặt với vấn đề giống mình, cũng từng sai, từng thử, từng trả giá, từng tìm ra cách làm tốt hơn. Giá trị tâm lý của cảm giác thuộc về này lớn hơn nhiều so với một bài hướng dẫn. Nội dung có thể khiến người ta chú ý. Cộng đồng khiến người ta muốn quay lại.
Điều này dẫn tới một hàm ý rất quan trọng cho doanh nghiệp B2B: cộng đồng mạnh nhất thường không được xây quanh sản phẩm, mà được xây quanh bản sắc chung hoặc nghề chung của thành viên. Người ta không khao khát thuộc về một nhóm “người dùng phần mềm X” theo nghĩa hẹp. Họ khao khát thuộc về một nhóm “những người đang làm vai trò này tốt hơn”, “những người đang giải quyết loại vấn đề này”, “những người đang nâng chuẩn của ngành này”, hoặc “những người có cùng tham vọng nghề nghiệp”. Sản phẩm có thể xuất hiện trong cộng đồng, nhưng sản phẩm không nên là lý do tồn tại duy nhất của cộng đồng.
Một cộng đồng đặt sản phẩm ở trung tâm thường chỉ hữu ích khi thành viên có vấn đề về sản phẩm. Họ vào để hỏi cách dùng, sửa lỗi, tìm tài liệu, rồi đi ra. Loại cộng đồng đó vẫn có giá trị, nhất là trong phần mềm hoặc công nghệ, nhưng nó thường dừng ở tầng hỗ trợ. Một cộng đồng đặt bản sắc nghề nghiệp ở trung tâm có sức sống sâu hơn. Nó khiến thành viên cảm thấy cộng đồng liên quan tới chính con người nghề nghiệp của họ, không chỉ liên quan tới công cụ họ đang dùng. Khi cộng đồng chạm được vào bản sắc, nó tạo ra sự gắn bó mạnh hơn rất nhiều.
Đây là lý do nhiều cộng đồng B2B tốt không bán hàng trực diện trong cộng đồng. Họ không biến mọi cuộc trò chuyện thành cơ hội demo. Họ không ép sản phẩm vào mọi chủ đề. Họ hiểu rằng giá trị thương mại sẽ đến sau, nếu cộng đồng thật sự trở thành nơi thành viên tin tưởng, học hỏi và thuộc về. Cố bán quá sớm là cách nhanh nhất để phá vỡ cảm giác cộng đồng, vì lúc đó thành viên nhận ra căn phòng này không được xây cho họ, mà được xây để dẫn họ vào phễu bán hàng.
Vì sao giá trị cộng đồng nhân lên theo thành viên?
Vốn xã hội giải thích cộng đồng tạo ra tài sản gì. Nhu cầu thuộc về giải thích vì sao con người ở lại. Nhưng còn một nguyên lý nữa giải thích vì sao cộng đồng có thể trở thành tài sản ngày càng mạnh và ngày càng khó sao chép: hiệu ứng mạng.
Hiệu ứng mạng là hiện tượng một thứ trở nên giá trị hơn với mỗi người dùng khi có thêm người dùng mới. Một chiếc điện thoại đầu tiên trên thế giới gần như vô dụng vì không có ai để gọi. Càng nhiều người có điện thoại, mỗi chiếc điện thoại càng giá trị. Một mạng xã hội có ít người thì ít hấp dẫn, nhưng khi có đủ người quan trọng với bạn ở đó, bạn có lý do quay lại. Một sàn giao dịch có nhiều người mua sẽ hấp dẫn người bán, và nhiều người bán lại hấp dẫn người mua. Giá trị không chỉ nằm trong từng người dùng riêng lẻ, mà nằm trong mạng lưới giữa họ.
Cộng đồng vận hành theo cơ chế tương tự. Một cộng đồng có mười thành viên có thể ấm áp, nhưng giá trị kết nối còn giới hạn. Một cộng đồng có một nghìn thành viên đúng nghề bắt đầu có chiều sâu. Một cộng đồng có mười nghìn thành viên chất lượng trong một ngành hẹp có thể trở thành hạ tầng xã hội của ngành đó. Mỗi thành viên mới, nếu phù hợp, không chỉ làm tăng quy mô. Họ mang vào kinh nghiệm, câu hỏi, mối quan hệ, câu chuyện, tài liệu, lời khuyên và góc nhìn mới. Họ làm cộng đồng có giá trị hơn với những người đã ở đó.
Điều này tạo ra hai hệ quả lớn. Thứ nhất, cộng đồng có đường tăng trưởng tự củng cố. Càng nhiều thành viên phù hợp, cộng đồng càng có giá trị. Càng có giá trị, nó càng dễ thu hút thêm thành viên phù hợp. Khi vượt qua một ngưỡng nhất định, cộng đồng bắt đầu tự lớn lên không chỉ nhờ nỗ lực của thương hiệu, mà nhờ chính giá trị mà nó đã tích lũy. Thành viên giới thiệu người mới. Người mới thấy hoạt động thật. Hoạt động thật tạo thêm giá trị. Giá trị lại kéo thêm người mới.
Thứ hai, cộng đồng trở thành một tài sản cực kỳ khó sao chép. Đối thủ có thể sao chép sản phẩm của bạn, sao chép nội dung của bạn, sao chép giao diện website, sao chép thông điệp quảng cáo, thậm chí sao chép cả chiến lược kênh. Nhưng họ không thể sao chép một mạng lưới quan hệ tin tưởng đã hình thành qua thời gian giữa hàng trăm hoặc hàng nghìn con người. Họ có thể tạo một nhóm mới, nhưng họ không thể sao chép lịch sử tương tác, những câu chuyện chung, những mối quan hệ đã hình thành, những người có uy tín trong cộng đồng, và cảm giác thuộc về mà thành viên đã xây với nhau.
Vốn xã hội và hiệu ứng mạng khi cộng lại sẽ tạo ra một hào nước rất đặc biệt. Nó không phải hào nước công nghệ. Không phải hào nước ngân sách. Không phải hào nước bản quyền. Nó là hào nước quan hệ. Và loại hào nước này rất khó mua bằng tiền vì nó cần thời gian, sự tin tưởng, tính nhất quán và khả năng giữ cho cộng đồng không bị biến thành một kênh bán hàng tầm thường.
Đây là lý do cộng đồng, dù chậm và khó xây, lại là một trong những tài sản marketing bền vững nhất. Ở giai đoạn đầu, nó có thể trông nhỏ, chậm và không hiệu quả. Nhưng nếu được xây đúng, nó có thể đạt tới điểm mà chi phí biên để tạo thêm giá trị giảm dần, trong khi giá trị tổng của mạng lưới tăng dần. Một khán giả có thể bị đối thủ giành mất bằng nội dung hay hơn hoặc ngân sách lớn hơn. Một cộng đồng thật, với vốn xã hội, nhu cầu thuộc về và hiệu ứng mạng của nó, thì khó bị giành hơn rất nhiều.
Cộng đồng nằm ở đâu trong mô hình 7B?

Khi đặt cộng đồng vào mô hình 7B, sai lầm là xem nó như một bánh răng riêng biệt. Cộng đồng không phải Broadcast, không phải Buzz, không phải Browse, không phải Buy, không phải Believer, không phải Backing, cũng không phải Bridge. Nó là một căn phòng đặc biệt nơi chính các thành viên tự quay nhiều bánh răng cho bạn. Xem thêm bài về mô hình bánh răng 7B để hiểu cách bảy bánh răng vận hành cùng nhau.
Hãy nhìn vào điều xảy ra bên trong một cộng đồng sống. Thành viên nói về bạn với nhau, chia sẻ kinh nghiệm dùng giải pháp của bạn, kể lại những điều họ học được từ bạn hoặc từ nhau. Đó là Buzz, nhưng là Buzz do chính thành viên tạo ra, không phải do bạn cố phát tán. Thành viên xác nhận giá trị của bạn cho nhau, kể những câu chuyện thật về kết quả họ đạt được, trả lời câu hỏi của người mới bằng trải nghiệm thật. Đó là Backing, bằng chứng đến từ người ngang hàng, thường đáng tin hơn rất nhiều so với lời thương hiệu tự nói về mình.
Thành viên giới thiệu cộng đồng cho đồng nghiệp, mời người cùng nghề tham gia, kéo thêm những người phù hợp vào mạng lưới. Đó là Bridge, nhưng cây cầu không chỉ được xây bởi đội marketing hay đội bán hàng. Nó được xây bởi chính thành viên vì họ thấy cộng đồng đáng để chia sẻ. Những khách hàng hiện tại trong cộng đồng cũng có xu hướng gắn bó sâu hơn, vì họ không chỉ dùng sản phẩm hoặc biết thương hiệu, mà còn có quan hệ, danh tính và thói quen trong cộng đồng. Đó là Believer, được nuôi dưỡng bởi cả mạng lưới, không chỉ bởi các chiến dịch chăm sóc khách hàng từ phía bạn.
Bạn thấy điều gì chưa? Trong một cộng đồng thật, nhiều bánh răng cùng quay, nhưng người quay chúng phần lớn là các thành viên, không phải bạn. Đây là khác biệt nền tảng giữa cộng đồng và hầu hết các kênh marketing khác. Ở các kênh khác, bạn là người quay bánh răng. Bạn phát Broadcast. Bạn tạo nội dung. Bạn chạy quảng cáo. Bạn làm PR. Bạn tối ưu trang chuyển đổi. Bạn tạo case study. Nhưng trong cộng đồng, vai trò của bạn thay đổi. Bạn không còn là người phải tự quay mọi thứ. Bạn xây căn phòng, giữ cho căn phòng có trật tự, đưa đúng người vào, tạo chủ đề đủ tốt, bảo vệ chất lượng tương tác, rồi để thành viên tự quay Buzz, Backing, Bridge và Believer cho nhau và cho bạn.
Đây là một thay đổi rất lớn về tư duy. Doanh nghiệp quen kiểm soát thông điệp thường rất khó chấp nhận điều này. Họ muốn mọi thứ đi qua mình. Họ muốn là người trả lời giỏi nhất, người đăng nhiều nhất, người xuất hiện nhiều nhất, người định hướng mọi cuộc trò chuyện. Nhưng cộng đồng càng phụ thuộc vào thương hiệu, nó càng ít giống cộng đồng. Nếu thành viên chỉ phản ứng khi thương hiệu đăng, cộng đồng chưa sống. Nếu thương hiệu im lặng một tuần và mọi thứ cũng im lặng theo, cộng đồng chưa sống. Cộng đồng thật là nơi thành viên có lý do để tương tác ngay cả khi thương hiệu không cố kéo họ từng chút một.
Sai lầm lớn nhất khi xây cộng đồng là cố biến thương hiệu thành trung tâm của mọi hoạt động. Doanh nghiệp làm vậy vì họ tưởng sự hiện diện dày đặc chứng minh cộng đồng mạnh. Nhưng sự thật thường ngược lại. Một cộng đồng nơi thương hiệu nói nhiều nhất có thể đang là một khán giả trá hình. Sức mạnh của cộng đồng nằm ở chỗ thành viên tự nói, tự hỏi, tự trả lời, tự giới thiệu, tự xác nhận và tự tạo ra năng lượng. Muốn điều đó xảy ra, thương hiệu phải đủ tự tin để lùi lại. Không phải biến mất, mà là chuyển từ người độc diễn sang người kiến tạo không gian.
Ví dụ cộng đồng B2B ở các ngành khác nhau
Trong ngành phần mềm, một công ty có thể xây cộng đồng cho những người dùng chuyên sâu sản phẩm của mình. Ở đó, thành viên trao đổi mẹo, giúp nhau xử lý vấn đề, chia sẻ cách thiết lập, đưa ra quy trình mẫu, và kể về những cách dùng sáng tạo mà chính công ty đôi khi chưa từng nghĩ tới. Nếu công ty trả lời mọi câu hỏi, cộng đồng sẽ dễ biến thành trung tâm hỗ trợ khách hàng. Nhưng nếu các thành viên giàu kinh nghiệm bắt đầu trả lời nhau, cộng đồng sẽ tạo ra giá trị mạnh hơn. Nó vừa giúp người mới học nhanh hơn, vừa làm người cũ có vị thế hơn, vừa tạo Believer khi người dùng gắn bó sâu hơn, vừa tạo Bridge khi thành viên rủ đồng nghiệp tham gia.
Trong ngành dịch vụ chuyên nghiệp, một công ty có thể xây cộng đồng cho những người giữ một vai trò lãnh đạo cụ thể, ví dụ những người phụ trách tăng trưởng, vận hành, nhân sự, tài chính, pháp chế, công nghệ hoặc marketing trong một loại doanh nghiệp nhất định. Đây thường là những vai trò cô đơn về mặt chuyên môn trong chính tổ chức của họ. Cộng đồng cho họ một nơi gặp những người cùng vai trò từ các công ty khác, nơi họ có thể nói thật hơn về thách thức, áp lực và quyết định khó. Công ty không cần bán dịch vụ mỗi ngày trong cộng đồng. Nếu cộng đồng thật sự tạo ra vốn xã hội, công ty dần trở thành cái tên đầu tiên thành viên nghĩ tới khi cần một đối tác có liên quan.
Trong ngành sản xuất, một nhà cung cấp có thể xây cộng đồng cho các kỹ sư trong một lĩnh vực kỹ thuật hẹp. Đây là nhóm mà nội dung đại trà thường không phục vụ đủ sâu. Họ không cần những bài viết chung chung. Họ cần trao đổi chi tiết về tiêu chuẩn, vật liệu, lỗi vận hành, lựa chọn thiết bị, kinh nghiệm triển khai, bài học từ dự án thật và những vấn đề mà chỉ người trong nghề mới hiểu. Khi cộng đồng có thêm kỹ sư giỏi, giá trị của nó tăng lên rõ rệt. Qua thời gian, nếu cộng đồng trở thành nơi tụ họp mặc định của ngành ngách đó, doanh nghiệp đứng sau nó sở hữu một tài sản mà đối thủ gần như không thể sao chép bằng vài chiến dịch quảng cáo.
Ba ví dụ này thuộc ba ngành khác nhau, nhưng cùng đi theo một nguyên tắc: cộng đồng tạo giá trị khi thành viên tự kết nối và tự quay bánh răng, không phải khi thương hiệu cố làm trung tâm. Càng nhiều tương tác có giá trị diễn ra giữa thành viên với nhau, cộng đồng càng mạnh. Càng nhiều giá trị phải đi qua thương hiệu, cộng đồng càng giống một kênh nội dung bình thường.
Bắt đầu xây cộng đồng B2B như thế nào?
Một trong những lý do cộng đồng khó xây là vì giai đoạn đầu thường rất chậm. Khi chưa có nhiều thành viên, hiệu ứng mạng chưa xuất hiện rõ. Khi chưa có nhiều cuộc trò chuyện, người mới bước vào thấy phòng vắng và không có động lực quay lại. Khi chưa có những thành viên lõi, mọi thứ phụ thuộc quá nhiều vào đội ngũ điều hành. Vì vậy, sai lầm của nhiều doanh nghiệp là mở cộng đồng quá rộng quá sớm, mời càng nhiều người càng tốt, rồi hy vọng số lượng sẽ tự biến thành sức sống. Nhưng cộng đồng không lớn lên chỉ vì có nhiều người. Nó lớn lên vì có đủ người phù hợp tương tác với nhau quanh một lý do đủ mạnh.
Giai đoạn đầu của cộng đồng B2B nên bắt đầu hẹp. Hẹp về đối tượng, hẹp về vấn đề, hẹp về lý do tham gia. Thay vì xây “cộng đồng cho doanh nghiệp B2B”, hãy xây “cộng đồng cho các giám đốc marketing B2B trong ngành công nghiệp đang muốn tạo nhu cầu ở thị trường quốc tế”. Thay vì xây “cộng đồng cho người làm nhân sự”, hãy xây “cộng đồng cho HR leader trong công ty 500 đến 2.000 nhân sự đang xử lý bài toán giữ chân quản lý cấp trung”. Cộng đồng càng hẹp ở giai đoạn đầu, thành viên càng dễ nhận ra nhau, càng dễ thấy vấn đề chung, và càng dễ có cuộc trò chuyện đủ sâu.
Sau khi có đối tượng rõ, việc quan trọng tiếp theo là tìm thành viên lõi. Đây không nhất thiết là những người nổi tiếng nhất, mà là những người có uy tín, có kinh nghiệm thật, sẵn sàng chia sẻ và có khả năng kéo người khác vào cuộc trò chuyện. Một cộng đồng nhỏ với mười thành viên lõi chất lượng có thể mạnh hơn một cộng đồng lớn với một nghìn người im lặng. Những thành viên lõi này là người giúp cộng đồng vượt qua giai đoạn đầu, khi hiệu ứng mạng chưa đủ mạnh để tự vận hành.
Tiếp theo, doanh nghiệp cần thiết kế nghi thức cộng đồng, không chỉ đăng nội dung. Nghi thức có thể là một buổi thảo luận cố định hằng tháng, một phiên hỏi đáp kín, một chủ đề chia sẻ bài học thất bại, một bảng giới thiệu thành viên mới, một buổi kết nối theo vai trò, hoặc một format nơi thành viên được mời phân tích vấn đề thật. Nghi thức quan trọng vì nó tạo thói quen. Cộng đồng không sống nhờ vài bài đăng ngẫu hứng. Nó sống nhờ những nhịp tương tác lặp lại khiến thành viên biết khi nào nên quay lại và quay lại để làm gì.
Cuối cùng, doanh nghiệp cần nhớ rằng giai đoạn đầu không nên đo bằng doanh thu trực tiếp. Nếu đo cộng đồng non trẻ bằng số đơn hàng hoặc số khách tiềm năng ngay lập tức, bạn sẽ giết nó trước khi nó đủ lớn. Giai đoạn đầu nên đo bằng các tín hiệu sống: thành viên có tự nói chuyện với nhau không, có người quay lại không, có người giới thiệu người mới không, có câu hỏi thật không, có câu trả lời từ thành viên không, có mối quan hệ nào hình thành không. Những tín hiệu này nhỏ hơn doanh thu, nhưng chúng là dấu hiệu cho thấy vốn xã hội đang bắt đầu tích lũy.
Đo sức khỏe cộng đồng như thế nào?
Vì cộng đồng không giống một kênh quảng cáo, cách đo cộng đồng cũng không nên giống quảng cáo. Nếu chỉ đo số thành viên, số lượt xem hoặc số lượt thích, bạn rất dễ tưởng mình đang có cộng đồng trong khi thực ra chỉ có một danh sách người tham gia thụ động. Số thành viên có thể là chỉ số quy mô, nhưng không phải chỉ số sức khỏe. Một cộng đồng lớn mà im lặng không mạnh hơn một cộng đồng nhỏ nhưng có tương tác thật.
Chỉ số quan trọng đầu tiên là tỉ lệ tương tác giữa thành viên với thành viên. Nếu phần lớn bình luận chỉ là phản ứng với bài đăng của thương hiệu, cộng đồng vẫn đang phụ thuộc vào bạn. Nhưng nếu thành viên bắt đầu hỏi nhau, trả lời nhau, nhắc tên nhau, giới thiệu tài nguyên cho nhau, tranh luận với nhau và tiếp tục cuộc trò chuyện mà không cần thương hiệu chen vào từng bước, đó là tín hiệu cộng đồng đang sống. Nói ngắn gọn, hãy đo xem bao nhiêu phần trăm giá trị được tạo ra bởi thành viên, không phải bởi thương hiệu.
Chỉ số thứ hai là số thành viên quay lại. Một người tham gia nhóm một lần không nói lên nhiều điều. Một người quay lại hằng tuần, tham gia thảo luận, đọc nội dung, trả lời người khác hoặc giới thiệu người mới mới là tín hiệu sâu hơn. Cộng đồng mạnh không chỉ thu hút người mới. Nó tạo lý do để người cũ quay lại. Sự quay lại là bằng chứng rằng cộng đồng đang thỏa mãn một nhu cầu nào đó, có thể là thông tin, quan hệ, vị thế, sự thuộc về hoặc cơ hội nghề nghiệp.
Chỉ số thứ ba là số kết nối có giá trị được tạo ra. Trong B2B, không phải mọi tương tác đều ngang nhau. Một bình luận vui có thể tốt cho không khí, nhưng một lời giới thiệu giữa hai thành viên, một cuộc gặp sau thảo luận, một dự án hợp tác, một lời khuyên giúp người khác tránh sai lầm, hoặc một case triển khai được chia sẻ thật mới là loại giá trị sâu hơn. Nếu cộng đồng tạo ra những kết nối như vậy, nó đang tích lũy vốn xã hội.
Chỉ số thứ tư là lượng giá trị do thành viên tự tạo. Thành viên có chủ động chia sẻ tài liệu không? Có viết bài trong cộng đồng không? Có đứng ra tổ chức phiên thảo luận không? Có trả lời người mới không? Có đưa ra case thật không? Khi thành viên bắt đầu đóng góp mà không cần được thúc ép liên tục, cộng đồng đã bước sang một tầng khác. Nó không còn là nơi thương hiệu nuôi mọi người. Nó trở thành nơi nhiều người cùng nuôi cộng đồng.
Cuối cùng, doanh nghiệp vẫn có thể đo tác động thương mại, nhưng nên đo với độ trễ phù hợp. Cộng đồng có thể ảnh hưởng tới nhận biết, niềm tin, giới thiệu, giữ chân khách hàng, mở rộng tài khoản và tốc độ ra quyết định trong thương vụ. Nhưng những tác động này thường không hiện ra ngay như một cú nhấp quảng cáo. Nếu ép cộng đồng chứng minh ROI theo kiểu ngắn hạn, bạn sẽ có xu hướng biến nó thành kênh bán hàng, và khi đó nó mất chính thứ khiến nó có giá trị.
Ba sai lầm khi làm community marketing B2B
Sai lầm thứ nhất là xây khán giả rồi gọi nó là cộng đồng. Nhiều doanh nghiệp lập một nhóm rồi chỉ đăng nội dung một chiều, biến nó thành một kênh Broadcast khác. Người tham gia vẫn thụ động, còn thương hiệu vẫn là nguồn phát duy nhất. Cách làm này có thể tạo thêm một nơi phân phối nội dung, nhưng nó không tạo vốn xã hội. Cách sửa là thiết kế để thành viên nói chuyện với nhau, không chỉ nghe bạn. Hãy đặt câu hỏi mở, kết nối thành viên có vấn đề tương đồng, tạo format để thành viên chia sẻ kinh nghiệm, và quan trọng nhất là lùi lại đủ để các cuộc trò chuyện giữa thành viên trở thành trung tâm.
Sai lầm thứ hai là xây cộng đồng quanh sản phẩm thay vì quanh bản sắc. Một cộng đồng quanh sản phẩm thường chỉ hấp dẫn khi người ta đang dùng sản phẩm hoặc gặp vấn đề với sản phẩm. Nó có giá trị, nhưng giá trị đó thường hẹp. Một cộng đồng quanh nghề chung, vai trò chung, mục tiêu chung hoặc bản sắc chung có khả năng thỏa mãn nhu cầu thuộc về sâu hơn nhiều. Cách sửa là đặt thành viên ở trung tâm của câu hỏi: họ muốn trở thành ai, họ đang đối mặt với vấn đề gì, họ muốn được công nhận trong nhóm nào, và họ muốn kết nối với những người như thế nào. Khi trả lời được những câu hỏi đó, cộng đồng sẽ có nền móng sâu hơn sản phẩm.
Sai lầm thứ ba là kỳ vọng kết quả nhanh và bỏ cuộc sớm. Cộng đồng tăng trưởng theo hiệu ứng mạng, nghĩa là giai đoạn đầu thường chậm, ít giá trị, khó thấy kết quả và dễ bị nghi ngờ. Nhưng đây cũng là giai đoạn vốn xã hội bắt đầu tích lũy. Nhiều doanh nghiệp bỏ cuộc đúng trước khi cộng đồng đạt ngưỡng tới hạn, vì họ đo nó bằng các chỉ số quá ngắn hạn. Cách sửa là hiểu cộng đồng như một khoản đầu tư dài hạn vào một tài sản tích lũy. Bạn cần kiên nhẫn qua giai đoạn đầu, tập trung vào thành viên lõi, chất lượng tương tác và tỉ lệ thành viên nói chuyện với nhau, trước khi kỳ vọng cộng đồng tự vận hành ở quy mô lớn.
Có một sai lầm thứ tư cũng đáng nhắc tới: kiểm soát quá mức. Doanh nghiệp sợ thành viên nói sai, hỏi khó, so sánh với đối thủ, phàn nàn hoặc đưa ra góc nhìn không hoàn toàn có lợi cho thương hiệu. Vì sợ, họ kiểm duyệt quá chặt, định hướng quá nhiều và làm mọi cuộc trò chuyện trở nên vô hại. Nhưng cộng đồng vô hại thường cũng vô giá trị. Tất nhiên cộng đồng cần luật chơi, cần chuẩn mực và cần điều phối. Nhưng nếu mọi thứ đều bị làm cho sạch bóng như một brochure bán hàng, thành viên sẽ không còn cảm thấy đó là nơi để nói thật. Mà không có sự thật, không có vốn xã hội.
Kết luận: khán giả lắng nghe bạn, cộng đồng nói chuyện với nhau
Quay lại chỗ tôi bắt đầu. Phần lớn doanh nghiệp nói muốn xây cộng đồng, nhưng thực ra chỉ đang xây một khán giả trong hình thức của một nhóm. Họ vẫn muốn là trung tâm, vẫn muốn phát thông điệp, vẫn muốn kiểm soát cuộc trò chuyện, vẫn muốn biến mọi tương tác thành cơ hội bán hàng. Nhưng cộng đồng không vận hành như vậy. Khác biệt giữa khán giả và cộng đồng là khác biệt về bản chất. Khán giả lắng nghe bạn. Cộng đồng nói chuyện với nhau. Và chính sự nói chuyện với nhau đó tạo ra toàn bộ giá trị mà khán giả không thể tạo được.
Sức mạnh của cộng đồng đến từ ba tầng giá trị. Tầng thứ nhất là vốn xã hội, tức mạng lưới quan hệ tin tưởng từ đó chảy ra lời giới thiệu, sự xác nhận, kinh nghiệm, cơ hội và sự gắn bó. Tầng thứ hai là nhu cầu thuộc về, một động lực tâm lý sâu hơn nhu cầu thông tin, khiến con người ở lại vì họ cảm thấy mình là một phần của một nhóm có ý nghĩa. Tầng thứ ba là hiệu ứng mạng, làm giá trị nhân lên theo từng thành viên phù hợp và biến cộng đồng thành một hào nước quan hệ mà đối thủ rất khó sao chép.
Trong mô hình 7B, cộng đồng không phải một bánh răng riêng biệt. Nó là căn phòng nơi chính các thành viên tự quay Buzz, Backing, Bridge và Believer cho bạn, nếu bạn đủ khôn ngoan để không cố làm người nói nhiều nhất trong phòng. Vai trò của bạn không phải là chiếm trung tâm, mà là kiến tạo không gian: đưa đúng người vào, tạo lý do để họ kết nối, giữ chất lượng cuộc trò chuyện, bảo vệ niềm tin, và để thành viên tạo giá trị cho nhau.
Đừng xây một nhóm chỉ để có thêm nơi đăng bài. Đừng gọi một khán giả thụ động là cộng đồng. Và đừng phá hỏng cộng đồng bằng cách biến nó thành một kênh bán hàng trá hình. Nếu muốn cộng đồng thật sự trở thành tài sản, hãy nhớ câu này: khán giả lắng nghe bạn, cộng đồng nói chuyện với nhau. Việc của bạn không phải là nói nhiều hơn. Việc của bạn là khiến những người phù hợp muốn nói chuyện với nhau nhiều hơn.
Để hiểu vì sao tiếng nói của thành viên đáng tin hơn tiếng nói của thương hiệu, hãy đọc bài về PR B2B. Để hiểu cách biến thành viên và khách hàng thành người giới thiệu, đọc bài về customer advocacy. Để hiểu vì sao phần lớn giá trị cộng đồng diễn ra trong những trao đổi bạn không thấy, đọc bài về sự lan truyền kín. Và để hiểu toàn bộ cỗ máy bảy bánh răng mà thành viên cộng đồng có thể tự quay, đọc bài về mô hình bánh răng 7B.
FAQ
Community marketing B2B là gì?
Community marketing B2B là việc xây dựng và nuôi dưỡng một cộng đồng những người kết nối với nhau quanh một mối quan tâm, một nghề, một vai trò hoặc một mục tiêu chung. Điểm quan trọng là giá trị không chỉ đi từ thương hiệu tới thành viên, mà còn đi giữa các thành viên với nhau.
Cộng đồng khác khán giả thế nào?
Khán giả là quan hệ một chiều: thương hiệu nói, người theo dõi nghe. Cộng đồng là quan hệ nhiều chiều: thành viên nói chuyện với nhau, giúp nhau, học từ nhau và tạo ra giá trị cho nhau. Khán giả lắng nghe bạn, cộng đồng nói chuyện với nhau.
Vì sao nên xây cộng đồng quanh bản sắc thay vì quanh sản phẩm?
Cộng đồng quanh sản phẩm thường chỉ hấp dẫn khi người ta đang dùng sản phẩm hoặc cần hỗ trợ. Cộng đồng quanh bản sắc nghề nghiệp, vai trò hoặc mục tiêu chung thỏa mãn nhu cầu thuộc về sâu hơn, nên có khả năng tạo gắn bó bền hơn và giá trị lâu dài hơn.
Vì sao cộng đồng B2B khó sao chép?
Cộng đồng khó sao chép vì giá trị của nó nằm trong vốn xã hội, lịch sử tương tác, niềm tin, mối quan hệ và hiệu ứng mạng giữa các thành viên. Đối thủ có thể sao chép nội dung hoặc sản phẩm, nhưng rất khó sao chép một mạng lưới quan hệ đã được tích lũy qua thời gian.
Nguyễn Đình
Bảo
Với tư cách là CEO The7, tôi cam kết chia sẻ kiến thức thực tế và hữu ích cho mọi người đọc. Tất cả các bài viết tại Website The7.vn đều dựa trên kinh nghiệm 7 năm thực chiến của tôi trong lĩnh vực Marketing bao gồm: quảng cáo Facebook, quảng cáo LinkedIn, quảng cáo Google, chiến lược Marketing,... Mong rằng bạn đọc tiếp thu được nhiều thông tin từ những bài blog này và áp dụng thành công trong thực tế.
Bài viết liên quan
